CÂY NHÀ LÁ VƯỜN

CÂY NHÀ LÁ VƯỜN

Nếp sinh hoạt rất rõ hình và ổn định của người Việt Nam có từ ngàn đời là khi Tết về là người ta cất nhà mới, sửa sang nhà cửa… để ngôi nhà của họ sao cho đẹp nhất mà bước vào đón xuân, rước lộc. Đây là nếp sinh hoạt đã được kết tinh thành văn hóa và mùa xuân cũng là văn hóa. Tết Kỷ Hợi đang về, tôi nghĩ, có đôi điều về nếp sinh hoạt đẹp này cũng là cách góp phần cho mùa xuân thêm phần ý nhị.

          Tôi sinh trưởng ở Cà Mau, vùng đất nằm ở miệt Hậu Giang xưa (tính từ tả ngạn sông Cửu Long đến mũi Cà Mau). Đây là vùng đất chiếm một nữa ĐBSCL ngày nay và là vùng khai mở sau cùng của tổ quốc Việt Nam. Vì thế nó có những nếp sinh hoạt rất đặc biệt, việc cất nhà mới, sửa nhà cũ khi xuân về Tết đến ở đất này cũng là một nét sinh hoạt đặc biệt.

Hồi tôi còn bé, vào thập niên 60 của thế kỷ 20, đất Hậu Giang còn rất nghèo nàn lạc hậu. Lúc này người Mỹ tăng cường viện trợ cho miền Nam, nhưng sự viện trợ ấy phục vụ cho ý đồ quân sự của họ, vì thế mà chỉ mang tầm ảnh hưởng đến các đô thị, còn làng quê Hậu Giang vẫn là bức tranh tuy có nên thơ nhưng buồn hiu hắc và nhuộm màu đau thương. Vẫn như từ thưở rất xa xưa, cái thưở mà ông cha những người đi khẩn hoang chọn đất để ở nhằm thuận tiện việc tưới ngọt rửa mặn cho nghề trồng lúa và đi lại dễ dàng. Làng xóm Hậu Giang nằm ven những dòng sông, những kênh rạch. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau một tiếng hú và toàn là nhà lá với tỉ lệ hơn 90%. Những ngôi nhà tường cá biệt là những ngôi nhà địa chủ cất từ thời Pháp thuộc hoặc của những người thuộc loại “giàu xưa”. Hình ảnh phổ biến tại các làng xóm Hậu Giang là: một căn nhà lá hai mái nằm cạnh bờ sông. Trước mặt nhà là bến sông có cái trại xuồng (hoặc ghe) và đôi bờ là hai rặng lá dừa nước, bần, mắm chạy ngút ngàn, xanh thẩm. Bên hông ngôi nhà là một đống rơm khô có con trâu nằm nhai cỏ trong buổi trưa hè. Sau đống rơm là cái chuồng trâu và lủ khủ cày, bừa, trục… Bên còn lại của ngôi nhà là cái chái bếp và một hàng cau hoặc hàng dừa. Sau chái bếp là một líp rau được kê trên giàn, trồng lủ khủ hành, ớt, ngò, sả… kế bên đó nữa là cái sàn lảng, có hàng lu nước bằng sành. Sau sàn lảng là một cái ao to, dùng trữ nước xài trong mùa hạn. Trên mặt ao hồng thắm những hoa sen, hoa súng. Và sau nữa là một cánh đồng của làng ta trải rộng, mênh mông tới đường viền chân trời. Ở đó tháng tám, mưa ngâu, nước đồng lểnh loảng, có tiếng nhái bầu ngất nga, chim vịt gọi bầy làm thổn thức đồng chiều, để Mẹ ta buồn mênh mông, bồng em ra đứng bờ đê, mắt xa săm dõi về cố thổ mà cất lên lời ca đầy day dứt.

Chiều chiều ra đứng bờ ao

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Và cũng ở đó, mùa hạn là đồng khô cỏ cháy, có con trâu lạc bầy lững thững và một cánh diều chấp chới phía chân đê. Chiều xuống, ráng chiều nhuộm hồng sắc lửa rồi trải trên đồng quê cái màu tím u uẩn. Ai đốt lửa ngoài đồng mà khói đốt đồng cứ dâng cao, lừng lững giữa trời chiều làm tím cả cánh đồng và tím cả hồn ta bằng một nổi buồn xa xăm, vô cớ. Để rồi nắng hạ mưa thu kéo về, ta lớn lên đi xa, cánh đồng cũ cứ đeo bám theo ta làm đau đáu một đời.

Nấu bánh tet ngày tết

Tôi cũng có một ngôi nhà, một làng quê và một cánh đồng như thế. Ở đó có  đời cha mẹ nghèo tả tơi manh áo, có anh em hui húc những bữa cơm rau luộc mắm đồng. Giờ cha mẹ đã về nơi xa khuất, anh em kẻ mất người còn, cái gia đình nông dân ngày cũ giờ đã tan đàn rẽ nghé từ lâu lắm. Nhà xưa, đồng cũ giờ đã khác xưa, đã thật xa xôi trong dĩ vãng. Tôi ở căn nhà ấy, quê ấy từ khi lọt lòng mẹ đến năm 16 tuổi thì thực hiện một chuyến đi dài, xa xôi, biền biệt. Hơn 30 năm sống đời kẻ chợ có những đêm mưa tôi giật mình ngơ ngác nghe trong tiềm thức có tiếng mưa thu rắc nhẹ trên mái lá nhà xưa. Trong những đợt gió bấc về se lạnh khi cận tết, tôi cũng nghe mấy ngọn gió xuân nôn nã thổi xạc xào, reo vui mái lá ở hai đầu song nhà. Thế là tôi tốc mùng ngồi dậy mà bần thần tự hỏi, đó có phải là tiếng quê, là hồn của bản quán đang đánh thức hồn người mà nức nở đến như thế? Thời gian cứ đi miệt, tóc xanh rồi tóc bạc, nhà xưa đồng cũ đã thật xa xôi như một cánh nhạn ở lưng trời vậy mà nó hằn sâu trong tâm khảm thành miền cố hương hoài vọng, làm thổn thức đời ta.

Cảnh miền quê sông nước

Cảnh làng quê

Tôi nhớ gần Tết, trước đó mấy tháng ba tôi đốn những cây mắm, cây vẹt… ở cụm rừng chồi sau nhà mà thẩy xuống đìa ngâm để chống mối mọt, anh em tôi thì sắn bụp dừa rồi đốn lá, xé lá xếp phơi khô, má tôi thì tối chông đèn chẻ lạc dừa, chị hai tôi cũng đốn lá về trầm chuẩn bị dừng buồng, làm cửa… Ngoại trừ mấy cây đinh, ít sợi dây chì thì đó là toàn bộ vật liệu để làm một căn nhà thời ấy.  Bởi thế miệt Hậu Giang có thành ngữ “Cây nhà lá vườn” và thời ấy, làm nhà kiểu ấy không ai thuê mướn và cũng không có dịch vụ làm nhà thuê, ngoại trừ cất nhà cột dầu kê tán, cần phải có thợ mộc. Cứ đến ngày lành tháng tốt, gia chủ “ới” lên một tiếng, là từ hừng đông, “trời đâm quay ngang” đã thấy chòm xóm, láng giềng lục đục kéo đến, có người mang trên tay, cả cưa, đục - không sót một ai. Đó là cái lệ làng của xứ sở miệt Hậu Giang. Người ta đến giúp nhau theo phương thức dần đổi công, năm nay anh làm sang năm tới tôi làm. Thế nên họ làm giống như làm cho mình. Đừng nghĩ rằng một ngôi nhà cột cặm cây rừng đơn giản, tại một làng quê tăm tối và của những người nông dân nghèo nàn mà không có yếu tố văn hóa. Đến ngày dựng nhà, gia chủ chỉ lo thức ăn, cúng vái và chuẩn bị vật liệu, việc còn lại là của những người đến giúp. Ở xóm làng nào cũng có người tháo vát, chỉ huy và những nhóm chuyên nghiệp. Tốp thì cắt cột, dựng sườn, đặt kèo, gác đòn dông… phải tuân thủ quy tắc phong thủy quy định từ xưa và tính thẩm mỹ; tốp khác thì tề lá, lợp mái, dừng vách, dừng buồng, làm cửa… làm nhà theo kiểu “đại chúng”có hai điểm đặc biệt xảy ra, đó là: nó rèn luyện tập tành ai cũng biết làm nhà, làm có kỹ thuật tay nghề nghiêm chỉnh. Làng tôi xưa có nhiều ông già dừng vách rất đẹp, gọi là dừng vách sóng đôi, nghĩa là hai sóng lá dừa quay ra ngoài, bền lá ém vào bên trong, từ phía nào ta cũng nhìn thấy mặt tiền. Theo đó cũng có rất nhiều thành niên lợp mái nhà rất đẹp, dưới đất nhìn lên, thấy sóng lá đều tăm tắp như là đổ khuôn. Một ly lá ấy mà đi qua là mấy cô gái quê liếc mắt đưa tình khi đang đứng phía dưới trao lá cho chàng. Mấy bà già thì chấm điểm rất cao trong tiêu chuẩn chọn rể.

Làm bánh mức cho ngày tết

Làm bánh mức cho ngày tết

Đến bây giờ ngồi nhớ lại, tôi thấy không có cây gì mà thân thiết, hữu dụng như cây dừa nước đối với đời sống của nông dân miệt Hậu Giang. Trong căn nhà quê hồi ấy, không chỉ có mái, vách làm từ dừa nước mà tất tần tật như buồng, bồ lúa, trại ghe đều làm từ lá dừa nước, thậm chí người ta còn làm giường ngủ, máng xối hoặc trầm cà bịt, cà vun để đựng gạo thóc, mắm muối… cây dừa nước còn đi vào văn hóa ẩm thực và đánh bắt tôm, cá. Hồi đó những người nghèo chết, thiếu áo quần tẩn liệm, người ta đã cho vào một ít lá dừa nước cho cái hòm đầy đặn để người ra đi được ấm êm đầy đủ.

Sông nước miền Tây

Sông nước miền Tây

Nông dân Hậu Giang xưa có cái nếp, hễ con cháu cưới vợ về ở 2 – 3 năm thì cất nhà cho ở riêng cũng vẫn vật liệu từ lá dừa nước, cây rừng. Cha mẹ ông bà cho những thứ ấy xuống xuồng, rồi chở lên đầu đất, nơi vợ chồng trẻ được cắt chia đất phụ ấm mà lập đời riêng, rồi ở đó cất nhà cho xong mới về.

Đầm ấm ngày xuân

Cất nhà là thời điểm vừa cực nhưng cũng vui. Nếu gia đình kha khá một tý, cất nhà bằng cột tràm, kê tán thì phải dựng lều để “dỡ gỗ”. Đó là nơi triển khai cắt cột, bào cây… hàng tháng trời. Đó cũng là nơi trú ngụ của sui gia, ní nót, dâu rể… tập trung đến giúp. Nông dân xưa có câu: “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ Trong ba việc ấy thật là khó khăn”. Việc làm nhà từ xưa người nông dân miệt Hậu Giang xem là một trong ba việc lớn của đời người, nên nó hết sức quan trọng. Chính vì ý thức quan trọng nên sự giúp nhau trong cộng đồng làng quê rất chân thành, hình thành nếp sinh hoạt lâu đời. Cứ đến ngày “dỡ gỗ”, dù bất luận ở đâu sui gia, ní nót, dâu rể… cũng phải tề tựu. Rồi ở đó hàng tháng trời mà làm cho xong ngôi nhà. Chiều, chủ nhà bắt cá lóc lên nấu nồi canh chua rồi mang rượu đế tự đặt ra mà đối nhân xử thế. Đó là những đêm đồng khô, gió thổi mát rượi. Mấy ông bạn già ngồi với nhau, chén thù chén tạt. Thỉnh thoảng một ông cao hứng cất lên sáu câu vọng cổ với giọng khàn đục thuốc gò. Họ chơi với nhau từ thời trai trẻ đến giờ sương gió đã gội trắng mái đầu mà tình cảm cũ ngày càng thắm đượm.

          Ngày nay miệt Hậu Giang và cả vùng ĐBSCL rất ít ai cất nhà bằng cột cặm, cây rừng, “cây nhà lá vườn” đã lui về thật sâu trong dĩ vãng. Chúng ta nhắc đến nó là nhắc đến một thời nghèo khổ nhưng đoàn kết thương yêu nhau của ông bà mình. Và từ đó họ vượt qua đói nghèo, chiến tranh để trụ vững trên đất mới làm cho đất nước ta thêm dài và đẹp như gấm hoa hôm nay./.

                                                                                                                                                                                                                                                               THẾ HÙNG

Tags