NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN KẾT GIAO Ở ĐỒNG BẰNG

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN KẾT GIAO Ở ĐỒNG BẰNG

  Lâm Thế Hùng

            Các làng quê ĐBSCL có mấy cái nếp, sáng Mồng Một là người ta thắp nhang từng nhà ở quanh vùng mình cư trú. Gọi là mừng tuổi ông bà. Trước tiên là thắp nhang ở những gia đình dòng tộc, cha mẹ ông bà rồi đến chòm xóm, bạn bè. Mối giao tình ở nông thôn rất khác xa với thành thị. Nếu ở chợ búa, chỉ ở cách nhau mấy căn nhà thì đã là “nhà tôi tôi ở, nhà anh anh ở” còn ở nông thôn thì lại hoàn toàn khác, trong bán kính vài cây số đã là chòm xóm, bạn bè của nhau theo thành ngữ đã được đút rút từ rất xa xưa “bà con xa không bằng láng giềng gần”, “tối lửa tắt đèn có nhau”.

             Mùa xuân Kỷ Hợi cũng đã về, gió xuân bay nhảy trên khắp đồng bưng, sông rạch ĐBSCL, người ĐBSCL đang chuẩn bị bước vào cái Tết vui tươi chan chứa của dân tộc. Họ cũng chuẩn bị đi thăm viếng, mừng tuổi ông bà của nhau. Đây là thời điểm ta nói đôi điều về mối quan hệ láng giềng của họ cũng là một điều thú vị.

Gói bánh tet ngày tết

Có một mối quan hệ được xuất hiện và định hình rất lạ ở ĐBSCL có tên  gọi là Ní. Người cùng tuổi, các vùng miền khác gọi là bạn vong niên còn ở miệt Hậu Giang Cà Mau gọi là Ní, con của Ní gọi là Từng Bể, Từng Má – rất màu sắc người Hoa. Vị thế của Ní không thua gì sui gia, thậm chí còn sâu nặng hơn. Ngày xưa ba tôi có rất nhiều ông Ní, Hoa có, Kinh có và cả Khmer nữa. Những ông Ní đó Ba tôi kết giao từ thời trai trẻ đến già chết thì thôi. Hồi Ba tôi qua đời, đám tang được tổ chức ở nhà tôi, Từng bể Bảy Nịl – người Khmer – từ trong quê khăn áo ra đi đám ma Ní. Ông ở đám tang 4 ngày 3 đêm rồi đưa ba tôi về quê chôn cất ông mới về. Từng Bể nghèo lắm, ông ăn mặc sốc sếch, ông ngồi mặt buồn so, lạc lỏng giữa đám quan khách đi đám tang Ba tôi. Thế nhưng tôi không nhận ra cái tấm tình chung thủy của ông nó cao hơn cái thế ông ngồi gấp bội phần.

                  Ba tôi còn một người ní Khmer khác mà tôi gọi là Từng Bể Sậy. Nhà ông cách xóm của tôi bởi con sông. Gia đình Từng Bể Sậy có nghề làm bún từ xưa (bún có nguồn từ người Khmer), ngày nào ông cũng sang nhà tôi để lấy củi về nấu bún. Vì Ba tôi có cụm rừng trâm bầu rất lớn. Cứ sáng sớm là Ba tôi cũng bơi xuồng qua rước Từng Bể Sậy, rồi châm sẵn một bình trà để hai ông vừa uống vừa nói mấy câu bông đùa, sau đó Từng Bể Sậy vô rừng lấy củi đầy một bao bố tời và Ba tôi lại bơi xuồng đưa ông sang sông. Đó là một câu chuyện rất xưa cũ nói về một sinh hoạt rất trùng lấp, mặc cho cuộc đời quá nhiều thay đổi, kể cả sự thay đổi của một chính thể. Và chính hai ông già cũng không nhớ nó đã diễn ra mấy chục năm. Họ chỉ nhớ một điều rằng chuyện tự nhiên phải như thế, đã là ní thì nó mãi mãi là như thế. Đó là một câu chuyện sẽ gây khó hiểu cho các thế hệ sau này khi nghĩ về khái niệm quyền lợi và nghĩa vụ.

Ngày tết nói chuyện kết giao

Minh họa Khởi Huỳnh

Còn tôi thì lâu lâu, ba tôi bận ông sai tôi đưa rước Từng Bể Sậy. Đó là những lần Từng Bể đứng bên kia bờ sông réo tôi bằng giọng Khmer pha Việt nghe rất buồn cười” “Hùng ơi, mày vớt Từng Bể qua sông với”.

               Làng tôi cũng như nhiều làng xóm khác của Cà Mau, người Việt sống cài răng lược với người Khmer, người Hoa. Bởi thế Ba tôi có ní người Khmer thì ông cũng có những mối giao tình sâu nặng với người Hoa. Người mà tôi muốn nói là bác Năm Ẹo. Bác Năm là bạn nối khố với Ba tôi, hai nhà cách nhau non một cây số.

               Bao lớp người của làng tôi lớn lên, ra đi. Mỗi lần hoài nhớ về cái xóm nhỏ heo hút của mình là ai cũng bắt gặp hình bóng bác Năm Ẹo. Cái hình đó nó rõ ràng, cụ thể đến nổi người thân của mình chưa chắc đã rõ ràng, cụ thể bằng. Bởi vì Bác Năm có nhiều cái lạ, cái khác thường, gây nên nhiều dấu ấn so với những người khác của làng tôi.

                Đó là một ông già cao lêu nghêu, quanh năm suốt tháng chỉ bận độc nhất một chiếc quần “Xá Sẩu” dài cũn cỡn đến đầu gối. Trên đầu là chiếc nón lá tơi.

                Ông Năm hay lội bộ đến nhà tôi chơi và ở ăn cơm với ba tôi. Cả làng tôi chẳng ai thấy ông uống nước. Nếu khát thì ông tu mấy ngụm rượu trong cái chai luôn kè kè bên hông. Tôi rất thích nhìn ông ăn cơm, ông ăn ớt như ăn rau, một trái ớt sừng trâu to bằng ngón tay, ông cắn một phát là nữa trái. Mà nào chỉ có ghiền rượu, ông Năm còn nghiện thuốc lá, nghiện trầu. Người làng tôi bảo trong người ông Năm không có nước chỉ có rượu. Vậy mà lạ lùng thay, ít thấy ông Năm bệnh. Đến 90 tuổi tóc ông vẫn xanh um như trai trẻ. Người làng tôi đặt tên con là: Hường, Lan, Cúc... còn tên các con Bác Năm nghe thật lạ lùng: Lái Hiếm, Xá Xiếm, Xí Hẩu... Bản thân ông Năm còn cái tên lạ nữa mà bọn tôi ít dám gọi: Chệt Ẹo! Những cái tên ấy nó chỉ rõ dòng máu người Hoa của ông. Nếu ba tôi đến làng này hồi năm tuổi, thì bác Năm đến vào khoảng 15 – 16 tuổi gì đó, nhưng lại cùng thời với ba tôi vì ông lớn hơn ba tôi một con giáp. Đó là cái thời ông Năm theo thương thuyền Hải Nam từ Trung Quốc sang Cà Mau để đi bán Cao đơn hoàn tán dạo rồi gặp bà Năm ở xứ này nên ông định cư khẩn đất mà làm rẫy. Dòng tộc ông Năm ở Phúc Kiến, có nghề trồng rẫy nhiều đời, hồi mới về đây, trong chiếc ui ná đựng quần áo của ông có một túm buộc chặt bằng vải đỏ, ông kiên quyết không cho ai đụng tới và gọi là của hồi môn của ông bà cha mẹ cho mang theo. Thế là cả làng kháo nhau: ông Năm coi nghèo vậy chứ chắc có vàng bạc nhiều lắm. Cho đến một hôm ông đặt bàn hương án giữa mảnh đất gò của mình để làm lễ tế trời, tế địa mà khai nghề rẫy thì chuyện mới vỡ lẽ ra. Trên bàn hương án hôm đó có con gà trống cúng thổ công và Quan Đế Thánh Quân và cái gói đo đỏ mà ông giữ khư khư từ trước đến giờ. Cúng xong ông mở nó ra trong ánh mắt tò mò của chòm xóm thì đó chỉ là một nhúm hạt hoa màu.

Miền Tây

                 Ông Năm lao động dẻo dai, ăn uống kham khổ. Mỗi ngày ông gánh 150 đôi nước để tưới rẩy vào giấc trưa nắng, trái với kinh nghiệm cổ truyền của người Việt trên đất này là tưới vào buổi sáng sớm và chiều mát. Vậy mà lạ lùng thay, đồ rẫy của ông xanh tốt lạ lùng, ai nhìn thấy cũng ham và nông phẩm của ông có nhiều chủng loại rất lạ, mới được trồng ở xứ này. Nếu người Việt trồng bí, bầu, khoai lang... thì rẫy ông Năm trồng rau cần, ngò, hẹ, khoai mỡ, cải tùa xại, xưng xại...

                Ông Năm không chỉ trồng rẫy mà ông còn gánh rau khoai đi bán khắp nơi, đó chính là cái máu thương mại của người Hoa vậy.

Sau này, vì là bạn nối khố nên ba tôi chính là “đệ tử đời thứ nhất” của ông Năm ở đất Cà Mau này. Ông Năm không chỉ truyền hết “bí kíp võ công nghề rẫy” mà còn cho những loại giống lạ mang từ bên Tàu qua trồng. Sau này chiến tranh ác liệt, ruộng vườn thất bát, chính nghề rẫy đã giúp gia đình tôi trụ được vào những giai đoạn lao đao lận đận nhất và nó đã góp phần nuôi tôi lớn lên.

Chuyện làng xóm

Sau đó, nghề rẫy, với những nông phẩm lạ được truyền ra cả làng xã. Các nhà nghiên cứu tiến trình khẩn hoang Nam bộ đã kết luận rằng: người Hoa có thế mạnh thương mại nên họ đã góp phần quyết định hình thành nhanh chóng các chợ mua bán sầm uất. Việc này thì đúng, nhưng phải nói thêm, người Hoa cũng góp phần ở nhiều lĩnh vực khác, ví như nghề trồng rẫy chẳng hạn. Từ đầu thế kỉ 20 ở vùng Cà Mau Hậu Giang có rất nhiều vùng rẫy danh tiếng đó là: Nhãn Bạc Liêu, khoai lang Trà Bang, khóm Ba Đình, dâu Cái Tàu... xung quanh những vùng rẫy ấy có những xóm ngày xưa gọi là rẫy Chệt và người ở xóm ấy thì gọi là Chệt Rẫy.

                    Xin trở lại chuyện của ba tôi và ông Năm. Nếu ông Năm dạy ba tôi nghề rẫy thì ba tôi là người giúp ông Năm làm ruộng một cách chí tình. Hồi đó, mùa sa mưa là cỏ mọc lên lợp xanh cánh đồng làng tôi. Nông dân chỉ phát cỏ rồi cào bờ giồng mà cấy nọc, chứ chưa áp dụng kỷ thuật cày bừa bằng trâu (kỷ thuật phát cỏ được phát minh ở Nam bộ vào thế kỷ 18). Đến mùa, ba tôi mang phảng đến phát cỏ với bác Năm rồi chở mạ đến cấy cho ông. Bác Năm tiếp thu nhanh nhưng làm kĩ đến thái hóa. Người ta làm ruộng, mỗi năm chỉ đắp bờ một lần, còn ông thì khi nào rảnh là ra đắp, đã thế ông còn lấy chày dồ nện cho cái bờ nhẵn bóng. Mỗi lần trâu ai lỡ vô dẫm cái bờ ruộng đẹp ấy là ông đào mồ cuốc mả cha cái thằng giữ trâu mất dạy. Từ đó mà xung đột nổ ra giữa ông Năm và đám trẻ giữ trâu. Chúng ghét ông! Bữa nào biết ông không có ở nhà chúng lùa trâu vào dẫm nát mấy cái bờ của ông rồi rình nghe ông chửi bằng một thứ tiếng nữa ta nữa tàu mà cười bò lăn: “Hụ pó, nị pắt liệt ngộ, nị lánh chít mẹ lun” ...

Quê tôi miền Tây

              Ông Năm qua đời sau khi ba tôi mất 4 năm – 2003, thọ 97 tuổi. Tôi về dự đám tang một ngày một đêm vì ân tình cũ. Khi tôi đến thì chưa đến giờ khâm liệm, người viếng rất đông, nhưng chỉ thấy bà con người Việt. Ông Năm nằm, tóc vẫn xanh như trai trẻ, mặt đầy đặn và bình yên như nằm ngủ, như thể ông rất yên tâm về cõi vĩnh hằng giữa cái lòng đất Việt đã yêu thương, cưu mang, nuôi nấn ông gần trọn cuộc đời.

              Thông thường, ở Cà Mau này đời trước kết thân thì đời sau cũng thế. Theo đó, tôi và thằng Tư, con Từng Bể Sậy, thằng Xí Hẩu con bác Năm Ẹo cũng làm ní. Và các chị, các em tôi cũng gắn bó thân thiết với những người ngang cùng tuổi của hai gia đình bên ấy.

               Từ đó bọn tôi được thụ hưởng một đời sống tinh thần rất sinh động. Lễ Óc-Om-BoK về, gió chướng kéo theo về cái hương lúa mới, tôi và thằng Xí Hẩu cùng các chị em kéo qua nhà Từng Bể Sậy mà đâm cốm dẹp để được ông lục đúc bánh chúc phúc như thằng Tư. Sau đó chúng tôi kéo đi xem đua ghe ngo đầy cuồng nhiệt, rồi đi chùa Cái Giá để xem lễ và vào các Sala mà đùa giỡn, hẹn hò. Tôi và thằng Xí Hẩu học nhảy lâm thôn, học nói tiếng Khmer. Từ đó mà sau này, cả ba thằng đều hiểu và nói được ít đỉnh ba thứ tiếng: Việt, Khmer, Hoa.

                 Khi Tết Việt về là chái bếp nhà tôi như mở hội. Má tôi cùng “Từng Má” Sậy, “Bác Năm gái” và mấy bà già ở xóm đi tét lá chuối, chẽ lạt để gói bánh tét. Đồng thời chỉ huy cho đám con gái là chị Hai, em gái tôi cùng với chế Lài Hiếm, Xá Kiếm con bác Năm Ẹo, chị Xậy con từng bể Sậy cùng các em cháu gái ở xóm nướng bánh bông lan, sên mứt dừa... và cả làm bánh củ cải của người Hoa nữa. Họ làm theo kiểu dần đổi công,  hết nhà này rồi đi nhà khác. Làm dưới sự chỉ huy của mấy bà già. Làm bánh rồi, bao giờ Má tôi cũng chuẩn bị một phần để Ba tôi mang qua cúng lên bàn thờ nhà từng bể Sậy, vì Tết Việt người Khmer chỉ ăn tết cùng.

                 Ní là một mối quan hệ đã định hình và ổn định ở ĐBSCL từ hàng trăm năm qua. Vì thế nó đã kết tinh thành văn hóa. Nó minh họa một cách sinh động tính cách con người ĐBSCL hào sản nghĩa tình nổi tiếng từ xưa./.

Nấu bánh tét

Tags